A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ 4 - 5 TUỔI PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG TRƯỜNG MẦM NON

Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số Biện pháp giúp trẻ 4 - 5 tuổi phát huy tính tích cực bảo vệ môi trường trong trường mầm non” là tổng hợp các biện pháp nhằm mục đích giúp trẻ  phát huy tính tích cực bảo vệ môi trường dựa trên những kiến thức, kỹ năng đã có của trẻ.  Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số Biện pháp giúp trẻ 4 - 5 tuổi phát huy tính tích cực bảo vệ môi trường trong trường mầm non” là tổng hợp các biện pháp nhằm mục đích giúp trẻ  phát huy tính tích cực bảo vệ môi trường dựa trên những kiến thức, kỹ năng đã có của trẻ. 

 

ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY

TRƯỜNG MẦM NON KIM SƠN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

 

 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ 4 - 5 TUỔI PHÁT HUY

TÍNH TÍCH CỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG

 TRƯỜNG MẦM NON

 

 

 

 

 

Tên tác giả: Nguyễn Thị Ngoan

Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Kim Sơn

Chức vụ: Giáo viên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NĂM HỌC: 2020 - 2021

 

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến

          Trong giai đoạn hiện nay, môi trường đang bị suy thoái, hủy hoại và bị ô nhiểm nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều đến đời sống con người, làm giảm đi chất lượng cuộc sống. Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng trên chính là do sự thiếu ý thức, thiếu hiểu biết của mỗi một con người trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường. Giáo dục bảo vệ môi trường (BVMT) là một vấn đề cấp bách, có tính chiến lược toàn cầu không chỉ đối với người lớn mà ngay cả trẻ ở lứa tuổi mầm non.

Việc cho trẻ mầm non tiếp cận với các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường là rất cần thiết, sớm hình thành những nề nếp, thói quen vệ sinh tốt, những giá trị tốt đẹp, hành vi tích cực và cách ứng xử có văn hóa trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường đối với con người và thiên nhiên xung quanh trẻ. Giáo dục trẻ yêu thiên nhiên, bảo vệ môi trường từ nhỏ khi lớn lên trẻ sẽ ý thức tốt hơn về vấn đề giữ gìn và bảo vệ môi trường.

Nhận thấy rằng tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng cao, nguồn nước, không khí, ngày càng ô nhiễm một cách trầm trọng, bão lũ lụt, hạn hán, sóng thần...hậu quả của việc hủy hoại môi trường đã và đang làm thiệt hại cả về con người và tài sản, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, kinh tế của đất nước. Do đó việc BVMT là cấp thiết, để BVMT chúng ta phải thực hiện nhiều biện pháp khác nhau, trong đó biện pháp giúp trẻ phát huy tính tích cực BVMT được xem là có hiệu quả nhất ở lứa tuổi mầm non.

Vì vậy tôi đã chọn đề tài này để giúp trẻ phát huy tính tích cực bảo vệ môi trường, cho môi trường ngày càng thêm sanh - sạch - hơn.

2. Mục tiêu của sáng kiến:

Giáo dục trẻ phát huy tính tích cực BVMT được lồng ghép vào các hoạt động hàng ngày tạo điều kiện để trẻ được trải nghiệm những vốn sống của bản thân. Để làm được điều này trẻ được nhìn nhận sự việc một cách khách quan, trẻ được trải nghiệm lĩnh hội kiến thức, từ những việc làm rất nhỏ nhưng ý nghĩa lớn giúp cải thiện BVMT.

3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 5 năm 2021.

- Đối tượng nghiên cứu: Trẻ 4-5 tuổi

- Phạm vi nghiên cứu: Trẻ mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi B3 trường Mầm non Kim Sơn. Số lượng là 35 cháu tại lớp tôi phụ trách.

II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN

         1. Hiện trạng của vấn đề:

         Giáo dục BVMT cho trẻ mầm non là cung cấp cho trẻ những kiến thức sơ đẳng về môi trường phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ nhằm tạo ra thái độ, hành động đúng của trẻ đối với môi trường xung quanh. Việc giáo dục ý thức BVMT được hình thành và rèn luyện từ lứa tuổi mầm non giúp trẻ có những khái niệm ban đầu về môi trường sống của bản thân mình nói riêng và con người nói chung là cần thiết từ đó biết cách sống tích cực với môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh của cơ thể và trí tuệ.

Được sự phân công của nhà trường, năm học 2020 -2021 tôi được phân công giảng dạy lớp 4 – 5 tuổi, với tổng số trẻ là 35 cháu. Trong đó có 23 nam và 12 nữ . Việc giáo dục trẻ mầm non phát huy tính tích cực BVMT được hực hiện trong các hoạt  động hằng ngày của trẻ tại lớp. Từ lúc đón, đến các hoạt động học, hoạt động chơi, ăn, ngủ... đều được giáo viên thực hiện lồng ghép việc giáo dục tính tích cực BVMT cho trẻ. Như ở lớp tôi phụ trách tôi đã thực hiện một số biện pháp giúp trẻ phát huy tính tích cực BVMT thông qua tranh ảnh, tôi đàm thoại cùng trẻ về hành động, việc làm của các bạn nhỏ về ý thức BVMT ( bỏ rác vào thùng, trồng cây...) hay tổ chức các buổi lao động dọn sân trường, giao nhiệm vụ cho từng nhóm trẻ, hay giáo dục trẻ phát huy tính tích cực BVMT thông qua trò chơi nhưng đạt hiệu quả chưa cao. Trẻ chỉ nhớ được lúc đó nhưng sau thì lại quên ngay, và khi lao động trẻ làm một cách miễn cưỡng, coi đấy là nhiệm vụ của mình phải làm. Trẻ chỉ làm khi người lớn yêu cầu, chưa có tính tự giác nên tôi rất lo lắng về vấn đề tích cực BVMT của trẻ.

Việc giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường hiện nay đôi lúc còn mang tính lý thuyết, chưa chú trọng yếu tố thực tiễn một cách sâu sắc, nghĩa là chưa thực hiện tốt phương châm “Học đi đôi với hành; lý luận gần gũi với thực tiễn”. Xuất phát những lý do trên tôi đã chọn đề tài: “Một số Biện pháp giúp trẻ 4 - 5 tuổi phát huy tính tích cực bảo vệ môi trường trong trường mầm non” Đề tài được nghiên cứu thực hiện tại lớp 4 tuổi B3 trường Mầm non Kim Sơn  nơi tôi đang công tác.

1.1. Thuận lợi:

- Về cơ sở vật chất:

Năm học 2020-2021, trường Mầm non Kim Sơn được công nhận trường chuẩn Quốc gia mức độ 2, trường đạt kiểm định cấp độ 3. Nhà trường được trang bị đồ dùng đồ chơi, trang thiết bị dạy học đầy đủ theo hướng hiện đại và đồng bộ, môi trường an toàn và thân thiện.

Trường lớp rộng rãi, thoáng mát, có khu vệ sinh khép kín tại các nhóm lớp, có thùng đựng rác có nắp đậy tại các nhóm lớp và ngoài sân trường thuận tiện cho phụ huynh và học sinh để rác.

- Về giáo viên:

Bản thân tôi tốt nghiệp Đại học sư phạm mầm non, có đủ năng lực, sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ công tác. Tôi luôn có tinh thần trách nhiệm và đầy lòng nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ. Bản thân tôi luôn tìm tòi vận dụng các phương pháp, hình thức đổi mới vào các hoạt động dạy và học nhằm thu hút trẻ tham gia tích cực.

- Về phụ huynh:

Phụ huynh rất quan tâm đến con mình, thường xuyên đưa đón trẻ đi học chuyên cần và trao đổi tình hình sức khỏe, học tập khi ở nhà cũng như ở trường với giáo viên của lớp.

- Về học sinh:

Lớp tôi phụ trách có 35 cháu (trong đó số lượng trẻ nam 23 cháu, trẻ nữ 12 cháu), tất cả trẻ đều phát triển bình thường, nhanh nhẹn, hoạt bát.

1.2. Khó khăn:

* Về giáo viên

- Bản thân tôi khi tổ chức hoạt động cho trẻ còn cứng nhắc, chưa tân dụng được hết các tình huống để giáo dục trẻ.

* Về phụ huynh

Là một xã thuộc nông thôn hầu hết phụ huynh là nông dân, làm ruộng nên họ nhận thức về môi trường rất khác nhau do đó có sự chênh lệch rõ ràng về nhận thức cũng như hành vi về BVMT, dẫn đến hình thành cho trẻ các nhận thức, kĩ năng BVMT còn nhiều hạn chế, giáo dục về môi trường cho con em còn thiếu quan tâm, tỉ mỉ và chính xác.

 Bên cạnh đó, một số gia đình do không nắm được một cách vững vàng đặc điểm tâm, sinh lý trẻ em, do quá bận rộn với công việc hàng ngày mà không giáo dục trẻ cách giữ gìn và BVMT cho đúng .

* Về học sinh

- Trẻ còn nhỏ chưa có có tính tích cực về BVMT, một số trẻ còn vứt,  giẫm đạp lên vỏ sữa, bim bim....và coi đó là trò chơi hấp dẫn. Hay nhiều lúc trẻ vẫn chạy một cách vô tư chưa biết nhặt rác ngay dưới chân mình để bỏ vào thùng, thậm chí còn bẻ cành cây bẻ hoa vườn trường, đi vệ sinh, rửa tay chưa biết khóa vòi nước lại.

Bảng 1 kết quả khảo sát thực tế trước khi thực hiện đề tài ;

TT

Nội dung tiêu chí đánh giá trẻ

 

Tổng số trẻ

Kết quả

Đạt

Tỷ lệ %

Chưa đạt

Tỷ lệ %

1

Tự giác cất dọn giữ gìn, đồ dùng, đồ chơi gọn gàng ngăn nắp đúng nơi quy định.

35

 

 

10

 

 

29%

 

 

25

 

 

71%

2

Tự giác giữ gìn trật tự, vệ sinh trường lớp, nhặt rác, vứt rác đúng nơi quy định.

35

 

 

11

 

 

31%

 

 

24

 

 

69%

3

Tự giác vệ sinh cá nhân, tiết kiệm nước khi sử dụng và tắt khi không sử dụng.

35

 

10

 

29%

 

25

 

71%

4

Tỏ thái độ với những hành động sai đối với môi trường.

35

 

12

 

34%

 

23

 

66%

Từ những thuận lợi và khó khăn trên, căn cứ vào nhu cầu và tình hình thực tế của nhà trường và lớp học, tôi đã nghiên cứu tìm ra một số các biện pháp như sau:

2. Các biện pháp thực hiện

2.1. Biện pháp 1. Cho trẻ tìm hiểu về tác dụng của việc bảo vệ môi trường.

    * Cho trẻ tìm hiểu về thực trạng môi trường hiện nay và ảnh hưởng của môi trường đối với đời sống con người.

Đây là bịên pháp giúp trẻ có kiến thức về môi trường, về thực trạng môi trường hiện nay, ảnh hưởng của môi trường với đời sống con người, nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường? Để cung cấp lượng kiến thức này tôi đã chuẩn bị các hình ảnh, video, học liệu về môi trường. Thông qua các hoạt động đón, trả trẻ, hoạt động chiều, các kiến thức về môi trường được truyền tải một cách chân thực nhất. Trẻ thấy được: môi trường xung quanh mình đang ngày một ô nhiễm. Các chất thải của các nhà máy xí nghiệp, những dòng sông trở thành những dòng sông rác, màu của nước chỉ còn là màu đen, động vật quý hiếm đang bị săn bắt nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu của con người... Diện tích  rừng bị thu hẹp, các vụ cháy rừng liên tiếp xảy ra, động vật không còn nơi trú ngụ, những đống rác thải chất cao hơn núi, ảnh hưởng của môi trường với biến đổi khí hậu: hạn hán, lũ lụt, hành động của con người đối với môi trường... Con người đang gánh chịu những hậu quả của ô nhiễm môi trường: Bệnh tật, thiếu nguồn nước, thiếu lương thực, hạn hán, bão lụt......

Song song với việc xem các video, hình ảnh về môi trường tôi đặt các câu hỏi tư duy: Vì sao môi trường nước bị ô nhiễm? Nước ô nhiễm ảnh hưởng đến đời sống con người như thế nào?... tùy vào từng video, hình ảnh mà đối tượng hỏi trong các câu hỏi khác nhau.

* Cho trẻ tìm hiểu về tác dụng của việc bảo vệ môi trường.

Không chỉ cung cấp cho trẻ những kiến thức về vấn đề thực trạng môi trường hiện nay, tôi cung cấp cho trẻ những kiến thức về tác dụng của việc bảo vệ môi trường. Tôi đặt những câu hỏi cho trẻ: Nếu môi trường luôn trong lành, sạch, đẹp thì sẽ như thế nào? Môi trường bị ô nhiễm là do đâu? Muốn bảo vệ môi trường thì phải làm gì? Bảo vệ môi trường có lợi ích gì?....

Thông qua những câu hỏi gợi mở và những hình ảnh về môi trường được thường xuyên truyền tải tới trẻ, trẻ hiểu được môi trường rất quan trọng, bảo vệ môi trường giúp cho con người hạn chế được bệnh tật, không còn xảy ra bão lũ, hạn hán, thiên tai... Trẻ hiểu được bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của tất cả mọi người. Đối với trẻ mầm non, việc bảo vệ môi trường thẻ hiện qua những hành động: không vứt rác ra lớp, sân trường, bỏ rác vào thùng, không vẽ bậy lên bàn, ghế, tường,... thường xuyên dọn vệ sinh: lau lá cho cây, không dẫm, ngắt hoa, nhắc nhở các bạn phải có ý thức giữ gìn vệ sinh trường, lớp......

2.2. Biện pháp 2: Lồng nghép giáo dục BVMT thông qua các hoạt động trong ngày.

* Lựa chọn nội dung lồng ghép giáo dục BVMT vào các hoạt động.

Đối với lớp tôi, tôi đã xây dựng kế hoạch giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ lồng ghép các hoạt động có chủ đích, hoạt động vui chơi, sinh hoạt dựa vào tình hình của lớp, khả năng thực tế của trẻ. Lựa chọn để đưa vào kế hoạch những nội dung lồng ghép đa dạng, phong phú: phân loại rác, để rác đúng nơi quy định, chăm sóc cây xanh…, lựa chọn những nguyên vật liệu gần gũi với thiên nhiên, những nguyên vật liệu đã qua sử dụng: Các đồ dùng cũ, các loại chai nhựa,.... có thể tạo được sản phẩm đáp ứng được yêu cầu "học bằng chơi, chơi mà học" cho trẻ, đảm bảo hiệu quả đạt được của đề tài luôn ở mức cao nhất.

Thông qua việc lựa chọn, tôi nhận thấy rằng chúng ta có thế sử dụng kiến thức về BVMT vào các hoạt động, tùy theo từng chủ đề và hoạt động khác nhau mà lồng ghép BVMT khác nhau. Qua đó tạo điều kiện để trẻ được trải nghiệm những vốn sống của bản thân.

* Lồng ghép giáo dục  BVMT qua tổ chức thực hiện các hoạt động.

Việc lồng ghép giáo dục BVMT luôn được tôi thực hiện một cách khéo léo, linh hoạt, luôn đổi mới đan xen vào hoạt động mà không làm mất đi kiến thức nội dung cơ bản của mỗi tiết dạy, luôn tạo không khí vui tươi, gần gũi, thân thiện giữa cô với trẻ, giữa trẻ với môi trường.

Mỗi một hoạt động có nội dung lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường cần phải giúp cho trẻ hiểu được một số vấn đề cơ bản: Vì sao cô lựa chọn sử dụng các nguyên vật liệu này trong giờ học? Để rác đúng nơi quy định để làm gì?.... Hơn nữa phải cho trẻ hiểu được việc bảo vệ môi trường không phải là việc của riêng người lớn mà còn chính là nhiệm vụ của trẻ, từ những hành động thường ngày: Tiết kiệm nước, bỏ rác vào thùng, chăm sóc cây xanh, không hái hoa, bẻ cành, yêu quý động vật....

* Sáng tác, sưu tm các bài hát, thơ ca, hò vè, tranh truyn, trò chơi v giáo dc bo v môi trường

Tôi luôn sưu tm, t sáng tác các bài thơ, câu chuyn, bài hát, trò chơi, hò vè có ni dung v giáo dục BVMT đưa vào các tiết hc, các hot động mi lúc mi nơi. Mc đích cung cp cho tr kin thc, kĩ năng, thy được tm quan trng và ý nghĩa ca vic BVMT.

* Các bài thơ, bài vè

- Các bài thơ: Bác quét rác, cô dy, không vt rác ra đường, nghe li cô giáo, bé quét nhà….

Bài thơ: “ BÁC QUÉT RÁC ”

  Keng ! Keng ! Keng !

Tiếng keng rt quen

Ca bác quét rác

Đó là bác nhc

Tt c mi nhà

Mang hết rác ra

Cho bác đi đổ.

Ti nào cũng nh

H nghe tiếng keng

Vi cùng m em

Đến bên xe rác

M cùng vi bác

Cht rác lên xe.

Xe rác đầy ghê

Bác còng lưng đẩy

Và em nhìn thy

Bác đẫm m hôi

Nhưng bác vn cười

đường ph sch.

Hoàng Th Dân

-  Các bài  vè: Vè môi trường, vè xanh sch đẹp,.

 

Bài vè:  “ XANH  - SẠCH – ĐẸP”

Ve v vè ve

Ta đọc bài vè

Nhiu cây, nhiu hoa

Cây ra hoa đỏ

Cây ra hoa vàng.

Cây xanh tươi tt

Bóng mát quanh năm

Sân trường xanh sch

Bo v môi trường

Quanh năm xanh - sch

Sân trường tôi đây

Là trường, là lp

Lp hc thân thương

Tôi hc hng ngày

Không có rác bn

Đẹp ơi là đẹp.

(T sáng tác)

-  Các câu đố: Thùng rác, nước thi, ngh lao công, vt liu tái sinh, túi bóng…                       Quanh năm đứng v đường

    Các bn qua li hãy thương cho cùng

Là cái gì? (Thùng rác)

- Các câu chuyn: Kh con ăn chui, chuyn trong vườn, tiếng kêu cu ca rng xanh, vt con lông vàng.

Qua các câu chuyn tôi giáo dc tr biết gi gìn v sinh, b rác đúng nơi quy định, trng nhiu cây xanh, yêu cây xanh để môi thường thêm trong lành và sch đẹp.

-  Các bài hát: Em yêu cây xanh, lí cây xanh, tưới cây, em đi trng cây.

Qua các bài  hát giáo dc tr trng nhiu cây xanh để cho bóng mát, chăm sóc cây, tưới nước cho cây, không b cành ngt lá.

-  Trò chơi: Ngôi nhà xanh nh

a. Mc đích

Giúp tr hiu được hot động trng cây, t đó yêu quý và biết chăm sóc cây xanh.

b. Chun b

Mt chu đất nh, mt chu thu tinh hoc l thu tinh to có th úp lên trên chu đất, mt ít ht.

c. Tiến hành

- Ngâm ht vào nước m vài ba tiếng ri vt ra,

- Gieo ht vào chu đất, tưới nước cho đất m

- Úp chu thu tinh (hoc l) lên chu đất.

- Đặt chu nơi có ánh nng mt tri

- Hng ngày cho tr quan sát, theo dõi s thay đổi ca chu đất (ht ny mm, mc lên to thành ngôi nhà xanh nh rt đẹp.

2.3. Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động chuyên đề về giáo dục bảo vệ môi trường.

* Xây dựng các tiết dạy chuyên đề qua ý tưởng của trẻ về môi trường

Dựa vào kế hoạch, nội dung các hoạt động năm học 2020-2021 và tình hình thực tế của lớp tôi phụ trách, tôi đã mạnh dạn xây dựng kế hoạch, giáo án chuyên đề về môi trường trên nền tảng ý tưởng trẻ. Khuyến khích trẻ nêu những ý tưởng của mình về các hoạt động bằng nhiều cách, ví dụ: Cho trẻ xem video về thực trạng môi trường hiện nay và hỏi trẻ thích điều gì nhất? Hoặc cho trẻ chơi một số trò chơi để kích thích trẻ nói... từ đó giáo viên sẽ chọn lọc và thực hiện xây dựng tiết dạy. Các tiết dạy cần xác định được các yêu cầu đạt được của chuyên đề: tầm quan trọng của môi trường? Trẻ hiểu được mục đích của hành động giữ gìn, bảo vệ môi trường? Trẻ biết được bảo vệ môi trường cần phải làm những việc gì phù hợp với lứa tuổi?

Ví dụ: Với đề tài Bảo vệ nguồn nước trẻ biết được nước có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì sự sống của con người và các loài động vật thực vật, nước quan trọng đối với đời sống hàng ngày, lợi ích của nước. Cần đi sâu hơn trong việc trẻ nắm được thực trạng của ô nhiễm nguồn nước và thực trạng sử dụng nguồn nước để từ đó trẻ rút ra được bảo vệ nguồn nước cần làm gì? Hay với đề tài: Phân loại rác trẻ cần biết được khái niệm đơn giản nhất về rác vô cơ, rác hữu cơ? Tác dụng, lợi ích, tác hại của từng loại? Trẻ sẽ rút ra được bài học cho bản thân và biết phân loại rác hữu cơ và rác vô cơ.......

Sau khi xác định được mục đích yêu cầu của đề tài dựa trên ý tưởng của trẻ, tôi từng bước xác định nội dung, phương pháp cho phù hợp. Chuẩn bị các đồ dùng, học liệu để tiến hành thực hiện.

* Cô cùng trẻ chuẩn bị nguyên vật liệu, đồ dùng đã qua sử dụng xây dựng môi trường.

Khi thực hiện chuyên đề về bảo vệ môi trường, môi trường lớp cần phải phù hợp. Trẻ học ở mọi lúc mọi nơi, học qua thực tiễn, qua tranh ảnh, đó là lý do tôi và trẻ đã sưu tầm  một số hình ảnh bảo vệ môi trường phù hợp với trẻ mầm non đặt tại các góc: Ví dụ với hình ảnh hãy sử dụng nguyên liệu thân thiện với môi trường tôi đặt ở góc tạo hình, với hình ảnh hãy để rác đúng nơi quy định tôi đặt tại nơi để thùng rác, với hình ảnh khóa nước sau khi sử dụng tôi đặt tại phòng vệ sinh nơi gần bồn nước....

2.4. Biện pháp 4: Thường xuyên tổ chức các hoạt động trải nghiệm về bảo vệ môi trường

* Thường xuyên tổ chức hoạt động trải nghiệm thực tế cho trẻ.

Dựa vào đặc điểm của lớp tôi phụ trách, hàng ngày, tôi cùng tr hóa thân vào các bác nông dân tưới nước cho ht và cùng nhau quan sát s ny mm ca ht. Đối vi con vt nuôi, cây xanh cho tr tìm hiu v đặc đim, giá tr, v đẹp ca con vt, cây, hoa, lá.... Nói v s sinh trưởng ca cây xanh, cô cùng tr tham gia hot động thc tế: Gieo ht. Cô cho tr xem v quá trình phát trin, thay đổi ca đối tượng: Ht - ny mm - cây có chi - lá non - lá xanh thm, to hơn, sau đó tr được xem c quá trình lao động chăm sóc cây trng. Tùy theo điu kin tôi chn nhng thí nghim làm cho tr xem và sau đó trò chuyn vi tr: Điu gì xy ra nếu không có nước? Phi làm nhng công vic gì để bo v ngun nước? Chúng ta làm gì để góp phn tiết kim nước? Chính hot động tri nghim này s mang li cho tr s hng thú khi hàng ngày được chăm sóc và tham gia các hot động như các bác nông dân thc th. T đó, tr biết trân trng cây xanh và bo m môi trường.

          Nhng tình hung trong các hot động mà tr tri nghim cũng hình thành cho tr ý thc v bo v môi trường. Ví d: Thông qua tranh, nh, băng, đĩa tr được nhìn thy nhng hành vi phá hoi môi trường và nhng nh hưởng khi môi trường b ô nhim như: Phá hoi cây xanh, vt rác ba bãi, săn bn động vt T đây tr có cái nhìn đúng, sai v hành vi bo v môi trường sng.

          Qua nhng hình nh trên máy chiếu, cho tr xem nhng vùng, min thiếu nước, cây ci thiếu nước, đất đai thiếu nước hoc ngun nước b ô nhim hay hình nh lãng phí nước s tác động đến cảm xúc ca tr. Khi được xem và tìm hiu v nước, các bé đã xây dng được ý thc tiết kim và hình thành thói quen tt nước khi không s dng.

          Có th nói rng, các hot động tri nghim có tác động rt ln ti vic phát huy tính tích cực bảo vệ môi trường của trẻ.

* Tổ chức trải nghiệm thông qua cuộc thi về bảo vệ môi trường

Để đề tài thực sự đi vào hoạt động thường kỳ của lớp, mang lại kết quả cao nhất, tôi đã mạnh dạn tổ chức một số cuộc thi về môi trường cho trẻ cùng với sự giúp đỡ của các bậc phụ huynh thông qua các ngày lễ hội.

- Tổ chức cuộc thi hóa trang bảo vệ môi trường.

Cuộc thi mang lại không khí vui tươi, khích lệ ý tưởng sáng tạo của trẻ và phụ huynh học sinh. Với nội dung bảo vệ môi trường, nhiều bộ trang phục lấy ý tưởng từ sách báo cũ, từ giấy gói hoa, hoặc từ các loại cây, rau... Qua cuộc thi trẻ hiểu được thông điệp của cuộc thi mang lại.

- Cuộc thi phân loại rác bảo vệ môi trường.

Ở cuộc thi này tôi cùng phụ huynh học sinh đã chuẩn bị tất cả các đồ dùng vật liệu để tổ chức cuộc thi. Các cháu trở thành những bác lao công vệ sinh môi trường. Trước khi vào cuộc thi trẻ được củng cố kiến thức về rác vô cơ và rác hữu cơ qua 1 số video. Phần thi thứ nhất là phần thi kiến thức, các câu hỏi trắc nghiệm, các câu hỏi mở có nội dung liên quan đến vấn đề phân loại rác và nghề vệ sinh môi trường. Phần thi thứ hai là phần thi thực hành, trẻ phải dựa trên những hình ảnh về rác và kiến thức của mình để phân loại riêng rẽ rác vô cơ và rác hữu cơ. Tất cả các phần thi trẻ đều được chia thành các nhóm.

          - Cuộc thi Hành động vì môi trường xanh - sạch - an toàn

Những video, clip về những hành vi bảo vệ môi trường là một phần quan trọng trong cuộc thi, trẻ được xem được thấy những tình huống trên video, trẻ phải tư duy để xử lý các tình huống có những hành vi sai về bảo vệ môi trường. Ngoài ra trẻ được tham gia vào một số trò chơi dân gian trong cuộc thi.

          * Làm đồ dùng đồ chơi t phế liu:

Hàng ngày, do nhu cu sinh hot mà 1 lượng ln rác thi đã thi ra môi trường đây chính là nguyên nhân gây ô nhim môi trường trm trng. Để gii quyết 1 phn vn đề đó tôi đã đặt ngoài hành lang góc lp 4 tui B3 ngôi nhà  trong đó hc sinh, ph huynh, cô giáo hàng ngày s đem các phế liu đặt vào ngôi nhà đó, tôi s chn phân loi nguyên vt liu khác nhau để s dng làm đồ dùng t to Hành động nh ý nghĩa ln”. Qua đó gim thiu được lượng rác thi ra ngoài môi trường, tránh ô nhim môi trường.

Tôi kết hp cùng vi giáo viên trong lp la chn nhng nguyên vt liu trong cuc sng sinh hot đảm bo an toàn v sinh tuyt đối cho trẻ: hp bánh ko, v hp sa, bìa cat tong, chai l nha, sách báo cũ… vì vy mà gim được chi phí và lượng rác thi trong nhà trường và môi trường. Sưu tầm thêm các mẫu đồ chơi trên mng internet, sách báo, hi thi đồ dùng đồ chơi các cp phù hp vi tng ch đề tng loi nguyên vt liu hướng dn cô cùng tr làm thành nhng đồ dùng đồ chơi cho tr chơi ti các góc lp. Là đồ dùng đồ chơi t to do đó to s hng thú cho tr khi được khám phá các loi nguyên vật liệu đó và t tay mình làm nhng món đồ chơi mình thích. Tôi cho rng làm tốt công tác này thì hiệu qu gi hc được tăng cao.

          3. Kết quả sau khi thực hiện các giải pháp:

Một năm thực hiện mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng được sự quan tâm, tạo điều kiện của nhà trường, sự giúp đỡ của bạn bè đồng nghiệp, sự cộng tác nhiệt tình của phụ huynh và những nỗ lực của bản thân, tôi đã thu được kết quả như sau:

 

 

Bảng khảo sát số liệu điều tra so sánh đối chứng

Bảng khảo sát trẻ đầu năm

TT

Nội dung tiêu chí đánh giá trẻ

Tổng số trẻ

Kết quả

Đạt

Tỷ lệ %

Chưa đạt

Tỷ lệ %

1

Tự giác cất dọn giữ gìn, đồ dùng, đồ chơi gọn gàng ngăn nắp đúng nơi quy định.

35

 

10

 

29%

 

25

 

71%

2

Tự giác giữ gìn trật tự, vệ sinh trường lớp, nhặt rác, vứt rác đúng nơi quy định.

35

 

 

11

 

 

31%

 

 

24

 

 

69%

3

Tự giác vệ sinh cá nhân, tiết kiệm nước khi sử dụng và tắt khi không sử dụng.

35

 

10

 

29%

 

25

 

71%

4

Tỏ thái độ với những hành động sai đối với môi trường.

35

 

12

 

34%

 

23

 

66%

Bảng khảo sát trẻ cuối năm

TT

Nội dung tiêu chí đánh giá trẻ

Tổng số trẻ

Kết quả

Đạt

Tỷ lệ %

Chưa đạt

Tỷ lệ %

1

Tự giác cất dọn giữ gìn, đồ dùng, đồ chơi gọn gàng ngăn nắp đúng nơi quy định.

35

 

32

 

 

91%

 

 

3

 

 

9%

 

2

Tự giác giữ gìn trật tự, vệ sinh trường lớp, nhặt rác, vứt rác đúng nơi quy định.

35

 

33

 

 

94%

 

 

2

 

6%

 

3

Tự giác vệ sinh cá nhân, tiết kiệm nước khi sử dụng và tắt khi không sử dụng.

35

 

32

 

91%

 

3

 

9%

4

Tỏ thái độ với những hành động sai đối với môi trường.

35

 

33

 

94%

 

2

 

6%

 

Sau khi thực hiện các biện pháp giáo dục BVMT tôi nhận thấy:

Trẻ hứng thú tham gia các hoạt động, trẻ chú ý lắng nghe, cảm nhận và có những việc làm hành động cụ thể đúng đắn, trẻ mạnh dạn tự tin bày tỏ quan điểm, hiểu biết của bản thân phù hợp giúp cải thiện và bảo vệ môi trường như: Biết thu dọn rác, sắp xếp đố dùng đồ chơi gọn gàng, biết chăm sóc bảo vệ thiên nhiên.

 Trẻ có được kiến thức đơn giản ban đầu về môi trường sống của con người, về động vật, thực vật và biết bảo vệ môi trường nơi trẻ ở. Trẻ gần gũi yêu quý thiên nhiên hơn.

          Trẻ có kỹ năng tự phục vụ, vệ sinh cá nhân, vệ sinh lớp học, nhà ở và nơi công cộng. Biết sử dụng điện nước tiết kiệm.

Từ những kết quả đạt được tôi trao đổi cùng với giáo viên trong khối lớp, cùng nhau tìm tòi, áp dụng những biện pháp hợp lí, phù hợp trong tất cả các hoạt động của trẻ trên lớp học do vậy mà trẻ trong lớp 4 tuổi B3 cũng như trẻ trong khối 4-5 tuổi có ý thức rất tốt về bảo vệ môi trường.

4. Hiệu quả sáng kiến:

4.1. Hiu qu v khoa hc

Đề tài đã được áp dng cho tr 4-5 tui lp B3 trường Mm non Kim Sơn. Các gii pháp được đưa ra da trên cơ s nhng tri thc, k năng, k xo mà tôi đã tích lũy được trong thc tin công tác ging dy và giáo dc, bng nhng hat động c th đã khc phc được nhng khó khăn mà vi nhng bin pháp thông thường không th gii quyết được, góp phn nâng cao hiu qu rõ rt trong công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dc tr.

Khi thc hin sáng kiến, đã thúc đẩy tôi không ngng sáng to trong quá trình làm vic. Sáng to trong vic xây dng môi trường, làm đồ dùng đồ chơi t to, xây dng nhng bài ging va gây hng thú va truyn ti các ni dung cơ bn  va có s tri nghim cho tr.

4.2. Hiu qu v kinh tế:

Đề tài nghiên cu là s đúc kết kinh nghim ca bn thân tôi, khi thc hin đề tài tôi đã tiến hành xây dng môi trường lp hc, làm đồ dùng đồ chơi t to bng nhng nguyên vt liu sn có trong t nhiên, nhng nguyên vt liu đã qua s dng, s dng các trang thiết b có sn có đem li hiu qu cao trong công tác ging dy vi chi phí thp. Nếu các gii pháp thc hin ca đề tài không ch được thc hin   lp tôi mà nhân rng ra khi 4 tui, tôi tin vào hiu qu mà nó mang li. Va dễ thực hiện, va tiết kim chi phí

4.3. Hiu qu v xã hi

Các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức đúng đắn về vấn đề môi trường hiện nay. Định hướng cho trẻ ý thức tự giác bảo vệ môi trường bằng những hành động phù hợp với lứa tuổi của mình.

 

 

5. Tính kh thi.

Vi hiu qu sáng kiến mang li, v khoa hc, kinh tế, xã hi, đã được chng minh qua các sn phm ca tr, s hng thú tích cc ca tr qua các hot động tri nghim, s hài lòng ca ph huynh, sáng kiến hoàn toàn có th áp dng được ti trường Mm non Kim Sơn. Tùy tng độ tui mà la chn các nhóm k năng có th d hơn hoc khó hơn để tiến hành.

6. Thi gian thc hin đề tài

T tháng 09/2020 đến tháng 3/2021.

7. Kinh phí thc hin đề tài:

- Nhà trường được đầu tư đồ dùng, đồ chơi, trang thiết bị dạy học hiện đại. Tôi đã khai thác và sử dụng để áp dụng vào việc dạy và giáo dục bảo vệ môi trường.

- Thc hin tuyên truyn ph huynh hc sinh ng h đồ dùng đã qua s dng, tăng cường s dng nguyên vật liu sn có.

- Tận dụng những sản phẩm, đồ dùng, đồ chơi tự tạo phù hợp với nội dung của sáng kiến.

Khi được triển khai, sáng kiến của tôi đều sử dụng những đồ dùng, nguyên liệu có sẵn và được phụ huynh học sinh ủng hộ. Vì vậy, sáng kiến của tôi không mất kinh phí để đầu tư.

III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

* Đối với phòng giáo dục

- Kính đề nghị phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Sơn Tây mở lớp tập huấn cho giáo viên trong toàn thị xã về lồng ghép giáo dục BVMT cho trẻ mầm non.

- Mở lớp bồi dưỡng nâng cao về kiến thức, kĩ năng, việc làm, hành động cụ thể về giáo dục BVMT cho giáo viên trong toàn thị xã, tham gia giúp đỡ phương pháp dạy trẻ lồng ghép thích hợp..

- Tổ chức cho giáo viên đi tham quan các trường điểm trong và ngoài thành phố.

* Đối với nhà trường

Rất mong được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban Giám hiệu nhà trường, sự phối hợp của các giáo viên trong toàn trường về ý nghĩa của việc giáo dục phát huy tính tích cực BVMT cho trẻ

     Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã áp dụng trong việc giúp trẻ phát huy tính tích cực BVMT, rất mong sự đóng góp của các đồng chí lãnh đạo, ban giám hiệu nhà trường, các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến cho tôi để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

 

 

XÁC NHẬN CỦA

THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Kim Sơn, ngày 15 tháng 3 năm 2020

NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN

 

 

 

Nguyễn Thị Ngoan


Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan
Tin tức mới nhất
Liên kết website
Thống kê truy cập
Lượt truy cập hiện tại : 1
Hôm nay : 26
Hôm qua : 194
Tháng 01 : 3.699
Tháng trước : 5.668